|
“Nhào nặn” các nút
[Hoàng Ngọc Giao]
Với công cụ chỉnh dạng, nếu chọn nhiều nút cùng lúc, bạn được phép di chuyển, co dãn, quay tròn hoặc kéo xiên các nút ấy theo cách thức tương tự như thao tác trên toàn bộ đối tượng. Nhờ vậy, bạn có thể nhanh chóng biến đổi một phần của đối tượng. Kết quả đôi khi rất ngoạn mục!
Căng khung chọn bao quanh các nút ở đầu vịt như trên hình 1A
Chọn Stretch and Scale Nodes trên thanh công cụ Property Bar
Các dấu chọn hiện ra, bao quanh các nút được chọn, giống như khi chọn đối tượng (hình 1B)
Kéo dấu chọn ở góc trên, bên phải lên trên một chút
Đầu vịt lớn hơn (hình 1C)
Chọn Rotate and Skew Nodes trên thanh công cụ Property Bar
Các dấu chọn quay hiện ra
Kéo dấu chọn ở góc trên, bên phải quay ngược chiều kim đồng hồ
Đầu vịt ngước lên (hình 1D)

Hình 1
Tương tự trường hợp đường gấp khúc, khi chọn nhiều nút cùng lúc, nếu bạn kéo một nút nào đó, các nút khác cùng được chọn sẽ di chuyển theo.
Kéo một nút ở đầu vịt lên trên (hình 2A)
Cổ vịt dài ra
Bạn để ý, các đoạn cong giữa các nút được chọn giữ nguyên hình dạng khi di chuyển, tạo cảm giác cổ vịt dài ra. Muốn diễn đạt tư thế “rướn cổ” tới trước, bạn hãy thử dùng chế độ đàn hồi (elastic mode). Trong chế độ này, chỉ có nút được kéo trực tiếp di chuyển bình thường, các nút khác cùng được chọn, nếu ở càng xa nút được kéo trực tiếp, càng ít di chuyển. Đường cong lúc bấy giờ giống như một sợi dây thun.

Hình 2
Ấn Ctrl+Z
Chọn Elastic Mode trên thanh công cụ Property Bar (biểu tượng “sợi dây thun”)
Kéo một nút ở đầu vịt lên trên (hình 2B)
Cổ vịt “rướn” lên, vẻ như gắn sức
Nếu hài lòng với kết quả đạt được, bạn ấn Ctrl+S để ghi bản vẽ hiện hành lên đĩa
Ghi chú
• Trong thao tác di chuyển, co dãn hoặc xoay tròn các nút đường cong, phím Ctrl và phím Shift cũng có hiệu lực gống như trong thao tác tương tự đối với toàn bộ đối tượng (mà bạn đã biết).
Hỏi - Đáp
Trong bài tập vẽ “kiến trúc củ hành”, tôi thấy hơi khó điều chỉnh các nút sao cho nóc nhà có dạng đối xứng chính xác. Nói chung, có cách nào để vẽ chính xác những hình có dạng đối xứng?
Để vẽ hình có dạng đối xứng, bạn nên dựng trước một bên cho hoàn chỉnh, sau đó tạo bản sao, “lật” qua trục ngang hoặc dọc và cuối cùng hàn gắn các nút cùng vị trí để có một đường cong duy nhất (tiện cho việc tô màu và xử lý chi đó sau này). Ta hãy xét một ví dụ. Giả sử bạn muốn vẽ một lá bài “ách bích” như hình 3.

Hình 3
Trước hết ta vẽ dấu bích. Sau khi phác nét thô dưới dạng đường gấp khúc (gồm 3 đoạn như hình 4A) bằng “bút chì” Freehand, bạn dùng công cụ chỉnh dạng căng khung chọn bao quanh đường gấp khúc ấy (chọn mọi nút) và bấm vào Convert Line To Curve trên thanh công cụ Property Bar để chuyển đổi mọi nút thẳng thành nút cong. Từ lúc ấy, bạn “tha hồ” co kéo các đoạn cong để có được dáng điệu như ý (hình 4B). Khi đã hài lòng với đường cong, bạn bấm vào công cụ chọn, gõ phím “cộng lớn” để tạo ra bản sao của đường cong, ấn giữ phím Ctrl và kéo dấu chọn ở giữa cạnh trái qua bên phải để đưa bản sao vào tư thế đối xứng với bản gốc (hình 4C). Bạn thu được hai đường cong đối xứng có hai nút chồng lên nhau (ở đỉnh dấu bích). Bạn chọn cả hai đường cong, bấm vào Combine trên thanh công cụ Property Bar, rồi lại “cầm” công cụ chỉnh dạng, căng khung chọn bao quanh hai nút chồng lên nhau ấy, bấm vào Joint Two Nodes và bấm vào Auto-Close Curve trên thanh công cụ Property Bar để thu được đường cong kín, tạo thành dấu bích hoàn chỉnh (hình 4D). Những việc cần làm sau đó để có “tác phẩm” như hình 3 đối với bạn lúc này chỉ là “chuyện vặt”.

Hình 4
Cần nói thêm rằng khi bạn gõ phím “cộng lớn” để sao chép đường cong, bản sao được tạo ra là một đối tượng riêng biệt. Ta không thể “hàn gắn” hai nút của hai đối tượng đường cong khác nhau mà trước hết phải dùng chức năng Combine để sáp nhập hai đối tượng đường cong thành một đối tượng đường cong duy nhất. Từ lúc đó, hai đường cong ban đầu trở thành hai đường con (subpath) của một đường cong. Bạn sẽ còn có dịp tìm hiểu kỹ càng hơn chức năng Combine.
Thế thì có nhất thiết phải đặt hai nút chồng lên nhau trước khi dùng chức năng Joint Two Nodes để “hàn gắn” chúng? Chức năng Joint Two Nodes khác với Extend Curve To Close và Auto-Close Curve ra sao?
Bạn không nhất thiết phải đặt hai nút cần hàn gắn chồng lên nhau (như khi... hàn “gió đá”). Nếu chọn hai nút nằm tách biệt và bấm vào Joint Two Nodes trên thanh công cụ Property Bar, bạn thu được một nút duy nhất tại vị trí cách đều hai nút ban đầu, thay thế cho hai nút ban đầu. Tuy nhiên, đặt hai nút chồng lên nhau, ta dễ hình dung trước kết quả của việc hàn gắn.
Khác với Joint Two Nodes, chức năng Extend Curve to Close tạo ra đoạn thẳng nối liền hai nút được chọn (số nút của đường cong vẫn như cũ). Chức năng Auto-Close Curve không đòi hỏi ta phải chọn nút trên đường cong. Khi bạn bấm vào Auto-Close Curve , CorelDRAW tự động tạo ra đoạn thẳng nối liền nút đầu với nút cuối để có đường cong kín.
Tôi vẫn chưa hiểu cái gọi là “chế độ đàn hồi” có ích gì. Tôi đã thử lung tung và chỉ thấy các nút đường cong chạy... tá lả!
Có lẽ cần trình bày với bạn một ví dụ rõ ràng hơn. Bạn hãy chọn công cụ vẽ đường xoắn ốc Spiral Tool và vẽ đường xoắn ốc với 8 vòng quay (bạn nhớ ấn giữ phím Ctrl) như trên hình 5A. Sau đó bạn dùng công cụ chỉnh dạng Shape Tool chọn mọi nút, bấm vào Elastic Mode trên thanh công cụ Property Bar (để “bật” chế độ đàn hồi) và kéo nút ở tâm đường xoắn ốc thẳng xuống dưới (hình 5B). Bạn có cảm thấy như đang kéo một lò xo xoắn hoặc như đang... đánh trứng để làm bánh? Nút càng xa nút ở tâm càng ít di chuyển. Nếu bạn không bật chế độ đàn hồi, mọi nút của đường xoắn ốc sẽ tiến đều theo nút ở tâm, chỉ đơn giản tạo ra sự di chuyển của toàn bộ đường xoắn ốc mà thôi.

Hình 5
Thử thiết kế biểu tượng
[Hoàng Ngọc Giao]
Đánh vật với đường cong và các nút có thể đã làm cho bạn... căng thẳng. Ta hãy “thư giãn” đôi chút bằng cách thiết kế vài biểu tượng (logo). Tuy đơn giản nhưng đây là mảng việc quan trọng của người dùng CorelDRAW trong thực tế. Thông qua vài nhu cầu trong... tưởng tượng, bạn sẽ có dịp rèn luyện các thao tác trong CorelDRAW cho thuần thục đồng thời tìm hiểu thêm những chức năng mới. (Ý đồ thiết kế biểu tượng do vậy có phần phụ thuộc vào mục tiêu ấy và các thao tác theo hướng dẫn có thể không tối ưu.)
Ghi chú
• Thiết kế biểu tượng cho cơ quan, công ty, hội nhóm,... hoặc thiết kế nhãn hiệu cho sản phẩm dù là công việc nặng tính “thương mại” nhưng vẫn có chất nghệ thuật. Nghĩa là không nên... câu nệ quy tắc. Quy tắc, có chăng, đó là “đơn giản và ấn tượng”. Nhưng làm thế nào để gây ấn tượng tốt là chuyện... không đơn giản. Xem như không có quy tắc! Tuy nhiên, quan sát những biểu tượng nổi tiếng, bạn cảm nhận rất rõ thế nào là “đơn giản”. Chẳng hạn, vẽ biểu tượng “trái táo bị gặm một miếng” của máy tính Macintosh đối với bạn có lẽ chỉ là chuyện vặt nhưng... (vâng, chữ “nhưng” mới thật là to chuyện!).
Giả sử một câu lạc bộ quần vợt mang tên Lan Oanh đặt ta thiết kế biểu tượng. Bạn cần thể hiện tên gọi Lan Oanh Tennis Club (dùng tiếng Anh một chút cho sang!), viết tắt là LOTC, sao cho người xem liên tưởng mạnh mẽ đến môn quần vợt. Biểu tượng phải đủ đơn giản để thuận tiện cho việc in lên nón, áo, túi xách,... và đủ rõ ràng để “bắt mắt” thiên hạ mỗi khi thành viên của câu lạc bộ “phon phon” ngoài đường.
Với “vợt” và “banh” nẩy lung tung trong đầu, có thể sau một lúc mơ màng, bạn chợt quơ lấy bút và vẽ phác trên lề trang báo “Thể Thao” đang đọc những đường nét như hình 1.

Hình 1
Phải rồi, ta sẽ dùng hình quả banh thay cho chữ O (tức “Oanh”) và sắp xếp các chữ tắt trên một hình tròn, gợi nhớ về cái vợt. Muốn nổi bật? Dùng màu tương phản theo kiểu “đen trắng, trắng đen” là tốt nhất!
Về mặt kỹ thuật, tạo các “phần tư hình tròn” không khó vì CorelDRAW cho phép vẽ hình “miếng bánh” rất nhanh chóng. Điều quan trọng là phải gióng hàng các chữ cho ngay ngắn và tạo hình quả banh “như thiệt”.
Mục tiêu đã rõ rồi, ta bắt tay vào việc thôi! Trước hết, bạn cần vẽ hình tròn và chỉnh dạng hình tròn để tạo ra hình “miếng bánh phần tư”.
Chọn File > New
Mở bản vẽ mới
Kéo từ thước một đường gióng dọc và một đường gióng ngang, sao cho chúng cắt nhau ở khoảng giữa trang in
Chọn Layout > Snap To Guidelines
Bật chế độ bắt dính vào đường gióng (nếu chưa bật)
Chọn công cụ vẽ e-líp trong hộp công cụ (hoặc gõ phím F7 cho nhanh)
Chuẩn bị vẽ hình tròn có tâm tại giao điểm hai đường gióng
Trỏ vào giao điểm hai đường gióng, ấn giữ phím Shift và Ctrl, kéo dấu trỏ để “căng” một hình tròn
Điều chỉnh tầm nhìn để thấy hình tròn rõ ràng như hình 2

Hình 2
Sử dụng View Manager
Khi làm việc, bạn có thể có nhu cầu quan sát bản vẽ ở các tầm nhìn khác nhau. Những lúc như vậy, muốn nhanh chóng trở lại tầm nhìn như trên hình 2 một cách chính xác, bạn nên ghi nhớ tầm nhìn ấy với tên gọi hẳn hoi. Điều này được thực hiện thông qua bộ phận “quản lý tầm nhìn” View Manager.
Chọn Tools > View Manager (hoặc ấn Ctrl+F2 cho nhanh)
Cửa sổ neo đậu View Manager hiện ra
Bấm vào nút Add Current View 
Tầm nhìn hiện hành đối với bản vẽ được ghi nhận với tên gọi mặc định View 1, kèm theo sau là hệ số phóng đại tính theo phần trăm (hình 3)

Hình 3
Nhờ vậy, sau khi “nheo mắt” hoặc “chúi mũi” ngắm nhìn chỗ nào đó trên bản vẽ, để trở lại với tầm nhìn “bình thường”, bạn chỉ việc bấm vào View 1 hoặc độ phóng đại tương ứng trong cửa sổ View Manager (hoặc chọn View 1 trong ô Zoom Levels trên thanh công cụ Property Bar nếu bạn đang cầm “kính lúp” trong tay). Bạn có thể ghi nhớ nhiều tầm nhìn khác nhau để đỡ tốn công “lui xa, tới gần” bằng “kính lúp” (vốn là thao tác khá mệt mỏi cho người dùng CorelDRAW xưa nay).
Ghi chú
• Muốn đổi tên tầm nhìn có sẵn trong cửa sổ View Manager để diễn đạt rõ ràng ý nghĩa của nó (thay cho các tên “máy móc” View 1, View 2,...), bạn bấm vào tên ấy. Tên của tầm nhìn sẽ xuất hiện trong một ô nhập liệu với dấu nhấp nháy, tỏ ý chờ đợi. Bạn gõ tên mới và gõ Enter.
• Muốn xóa tầm nhìn nào đó trong danh sách tầm nhìn của cửa sổ View Manager, bạn chọn tầm nhìn ấy rồi bấm vào nút Delete Current View .
• Bạn để ý, phía trước mỗi tên tầm nhìn là hai biểu tượng nhỏ thuộc loại bật/tắt có dạng trang in và kính lúp . Biểu tượng “trang in” chỉ có ý nghĩa khi bản vẽ có nhiều trang. Theo mặc định, cả hai biểu tượng này ở trạng thái “bật”. Nghĩa là khi bạn chọn một tầm nhìn nào đó trong View Manager, không chỉ độ phóng đại được điều chỉnh, bạn sẽ được đưa đến đúng trang in mà tại đó ta đã định nghĩa tầm nhìn. Nếu bạn tắt biểu tượng trang in, View Manager sẽ không lật đến đúng trang in như đã ghi nhớ khi trở lại với tầm nhìn bạn chọn, mà chỉ thay đổi độ phóng đại ngay trên trang hiện hành. Nếu bạn tắt “kính lúp”, View Manager sẽ chỉ lật đến trang đã ghi nhớ nhưng lại không thay đổi độ phóng đại (không “lui xa” hoặc “tới gần”). Dĩ nhiên, nếu bạn tắt cả “trang in” lẫn “kính lúp” thì View Manager sẽ không “nhúc nhích” chi cả khi bạn yêu cầu thay đổi tầm nhìn.
Ấn Ctrl+S
Ghi bản vẽ lên đĩa (với tên gì đó tùy ý bạn). Tầm nhìn do bạn đặt tên cũng được lưu trữ trong tập tin bản vẽ.
Thu gọn cửa sổ neo đậu View Manager (bấm nút Collapse Docker )
Chọn cỡ nét
Theo mặc định, hình tròn mà ta vừa vẽ có cỡ nét rất mảnh (cỡ nét “dây tóc”). Bạn hãy chọn cỡ nét dầy 1.5 point cho hình tròn.
Dùng công cụ chọn để chọn hình tròn
Bấm vào biểu tượng ngòi viết trong hộp công cụ
Một “ngăn kéo” thò ra (hình 4)
Bạn để ý, ngay trong “ngăn kéo” mở ra từ biểu tượng ngòi viết có sẵn một số cỡ nét thông dụng nhưng lại không có cỡ nét 1.5 point mà ta đang cần.
Lại bấm vào biểu tượng ngòi viết trong “ngăn kéo”
Chọn Outline Pen Dialog. Hộp thoại Outline Pen hiện ra (hình 5)
Bấm vào ô nhập liệu Width, gõ 1.5 và gõ Enter
Chọn cỡ nét 1.5 point và đóng hộp thoại Outline Pen. Hình tròn của ta trở nên dầy nét hơn (hình 6).

Hình 4 
Hình 5 
Hình 6
Bạn có thể chọn cỡ nét từ ô Outline Width trên thanh công cụ Property Bar. Tuy nhiên, khi ô Outline Width không có trên thanh công cụ Property Bar (vì thanh công cụ này thường xuyên thay đổi xoành xoạch), bạn có thể chọn cỡ nét thông qua hộp thoại Outline Pen như ta vừa làm (muốn nhanh, bạn ấn phím F12 để mở hộp thoại Outline Pen).
Bộ nhớ đệm
[Hoàng Ngọc Giao]
Trước khi điều chỉnh hình tròn thành hình miếng bánh, để cho an toàn, bạn nên sao chép hình tròn vào bộ nhớ đệm (clipboard). Bộ nhớ đệm là một vùng lưu trữ tạm thời của môi trường Windows, dùng cho mọi phần mềm. Bạn có thể đưa vào bộ nhớ đệm mọi thứ, từ văn bản, biểu đồ đến hình ảnh, âm thanh.
Ghi chú
• Theo nghĩa đen, clipboard là cái bảng kẹp giấy (tấm bìa cứng có cái kẹp gắn ở cạnh trên, có thể móc lên tường) thường dùng trong văn phòng như là chỗ để “ghim” tạm thời các loại văn bản “tốc ký”, các thông báo ngắn gọn. Không chỉ “bảng kẹp giấy”, nhiều phương tiện khác của Windows mô phỏng các dụng cụ văn phòng. Chẳng hạn, bản thân nền màn hình trống trơn của Windows được xem là mặt bàn (desktop). Tuy nhiên, nếu dùng tên gọi “bảng kẹp giấy” quá... cụ thể, nghe chừng không sang! Ta hãy gọi clipboard là bộ nhớ đệm để có tính trừu tượng cao hơn.
• Do là vùng lưu trữ tạm thời dùng chung cho mọi phần mềm trong môi trường Windows, bộ nhớ đệm trở thành nơi “quá cảnh” để bạn có thể đưa đối tượng của CorelDRAW vào phần mềm khác hoặc ngược lại. Nói cho có vẻ “hàn lâm”, bộ nhớ đệm là phương tiện để trao đổi dữ liệu giữa các phần mềm.
Cụ thể, để đặt đối tượng đã chọn vào bộ nhớ đệm, bạn chọn Edit > Copy (hoặc ấn Ctrl+C). Ngược lại, để lấy đối tượng từ bộ nhớ đệm, bạn chọn Edit > Paste (hoặc ấn Ctrl+V). Có điều rất đáng chú ý, bạn có thể lấy đối tượng từ bộ nhớ đệm bao nhiêu lần cũng được. Nhờ vậy, ta sẽ có được nhiều đối tượng giống hệt nhau.
Ghi chú
• Về mặt này, bộ nhớ đệm có vai trò giống như máy sao chụp (photocopier) trong văn phòng.
Ngoài ra, khi bạn đưa đối tượng mới vào bộ nhớ đệm, “ma mới” sẽ tiêu hủy “ma cũ” đang nằm trong ấy (nếu có) và độc chiếm bộ nhớ đệm chứ không “chung sống hòa bình”. Nghĩa là muốn lưu trữ nhiều đối tượng trong bộ nhớ đệm, bạn phải đưa chúng vào cùng lúc chứ không thể “đẩy” lần lượt từng “em” một.
Lúc này, hình tròn của ta đang ở trạng thái “được chọn”...
Ấn Ctrl+C
Sao chép hình tròn vào bộ nhớ đệm
Chọn công cụ chỉnh dạng (hoặc gõ phím F10)
Chuẩn bị điều chỉnh hình tròn
Tạo hình miếng bánh “phần tư”
Để tạo hình miếng bánh “phần tư”, ta dùng công cụ chỉnh dạng kéo nút duy nhất của hình tròn dọc theo chu vi hình tròn, sao cho dấu trỏ luôn ở miền trong hình tròn. Tùy theo bạn “căng” hình tròn theo hướng nào (từ tâm kéo lên trên hoặc kéo xuống dưới), nút duy nhất của hình tròn sẽ xuất hiện ở đáy hoặc ở đỉnh. Nếu hình tròn của bạn có nút nằm ở đỉnh, bạn hãy thực hiện chính xác các thao tác theo hướng dẫn dưới đây. Trong trường hợp hình tròn của bạn có nút nằm ở đáy, bạn chỉ cần đọc để hiểu ý và tự thực hiện việc điều chỉnh hình tròn thành hình miếng bánh.
Kéo nút ở đỉnh hình tròn quay 90 độ ngược chiều kim đồng hồ, đến đường gióng ngang (chú ý giữ dấu trỏ ở miền trong hình tròn)
Bạn thu được miếng bánh “phần tư” nằm ở góc trên trái hình tròn. Bạn để ý, từ một nút của hình tròn lúc đầu, nay ta có hai nút ở hai bên miếng bánh
Chọn màu đen trên bảng màu
Tô màu đen cho miếng bánh (hình 1)
Để có miếng “bánh gai” thứ hai ở góc dưới phải, ta hãy lấy hình tròn nguyên vẹn từ bộ nhớ đệm và điều chỉnh tương tự như trên.
Ấn Ctrl+V
Sao chép hình tròn từ bộ nhớ đệm. Bạn có lại hình tròn nguyên vẹn ở đúng vị trí cũ. Hình tròn này mặc nhiên ở trạng thái “được chọn”
Dùng công cụ chỉnh dạng kéo nút ở đỉnh hình tròn quay 90 độ theo chiều kim đồng hồ đến đường gióng ngang, sau đó kéo nút thứ hai (ở đỉnh) quay 180 độ ngược chiều kim đồng hồ đến đường gióng dọc (chú ý giữ dấu trỏ ở miền trong hình tròn)
Chọn màu đen trên bảng màu
Bạn có kết quả như hình 2
Ta cần có thêm hai miếng “bánh bò” nữa để lấp vào chỗ khuyết ở góc trên phải và góc dưới trái.
Ấn Ctrl+V
Sao chép hình tròn từ bộ nhớ đệm
Chọn màu trắng trên bảng màu
Tô màu trắng cho hình tròn
Ấn Shift+Page Down (chức năng To Back)
Đưa hình tròn trắng ra sau cùng. Bạn có kết quả như hình 3

Hình 1 
Hình 2 
Hình 3
Ghi chữ vào bản vẽ
Tiếp theo, bạn tạo ra các chữ L, T và C rồi đặt vào các hình miếng bánh “phần tư”. Ta sẽ chọn dùng kiểu chữ Futura XBlk BT.
Chọn công cụ ghi chữ Text Tool hoặc gõ phím F8 cho nhanh
Bấm vào đâu đó trên miền vẽ và gõ L (chữ hoa)
Kéo dấu trỏ ngang qua chữ L để chọn
Chữ L xuất hiện trên nền xám, biểu thị trạng thái “được chọn”
Chọn kiểu chữ Futura XBlk BT trong ô Font List của thanh công cụ Property Bar
Chuyển qua công cụ chọn và bấm vào ô màu trắng của bảng màu
Tô màu trắng cho chữ L
Kéo chữ L vào “miếng bánh” ở góc trên trái và định cỡ chữ L sao cho vừa phải như hình 4
Kéo chữ L từ “miếng bánh” góc trên trái xuống “miếng bánh” góc dưới phải và bấm phím phải chuột trước khi thả phím trái
Sao chép chữ L để tạo chữ L thứ hai giống hệt ở “miếng bánh” góc dưới phải
Bạn cứ tự nhiên thả chữ L vào giữa “miếng bánh” góc dưới phải, không cần ngắm nghía chi cả. Ta sẽ điều chỉnh vị trí sau.
Theo cách tương tự, tạo nên chữ L ở “miếng bánh” góc dưới trái
Bấm vào ô màu đen trên bảng màu
Tô màu đen cho chữ L ở “miếng bánh” góc dưới trái
Chọn công cụ ghi chữ hoặc gõ phím F8
Chọn chữ L màu đen ở “miếng bánh” góc dưới trái và gõ T
Thay chữ L đen bằng chữ T
Chọn chữ L màu trắng ở “miếng bánh” góc dưới phải và gõ C
Thay chữ L trắng bằng chữ C. Bạn thu được kết quả như hình 5

Hình 4 
Hình 5
Tạo hình quả banh
[Hoàng Ngọc Giao]
Ta bắt tay vào việc tạo hình quả banh quần vợt...
Dùng công cụ vẽ một hình tròn ở chỗ trống nào đó trên miền vẽ
Bấm vào công cụ chọn 
Chọn cỡ nét 3 pt cho hình tròn vừa tạo ra
Ấn giữ phím Ctrl, kéo hình tròn qua phải đến vị trí như hình 1 và bấm phím phải của chuột một phát trước khi buông phím trái của chuột
Sao chép hình tròn vừa vẽ để có hình tròn mới, nằm lệch về bên phải so với hình tròn gốc
Ấn Ctrl+R (hoặc chọn Edit > Duplicate)
Bạn có hình tròn thứ ba, bên phải hình tròn thứ hai (hình 2)
Chọn hình tròn nằm giữa (hình 2)
Chọn Arrange > Shaping > Shaping
Cửa sổ neo đậu Shaping xuất hiện
Trên cửa sổ Shaping, chọn Intersect, bật ô duyệt Source Object và tắt ô duyệt Target Object (hình 3)
Chuẩn bị lấy phần giao (intersection) của hình tròn giữa với hình tròn bên trái
Bấm nút Intersect With trên cửa sổ Shaping và bấm vào đường viền của hình tròn bên trái
Hình tròn bên trái bị xóa bỏ. Xuất hiện phần giao của hình tròn bên trái với hình tròn giữa
Chọn hình tròn giữa, bấm nút Intersect With trên cửa sổ Shaping và bấm vào đường viền của hình tròn bên phải
Hình tròn bên phải bị xóa bỏ. Xuất hiện phần giao của hình tròn bên phải với hình tròn giữa. Bạn thu được quả banh quần vợt như hình 4
“Căng” khung chọn bao quanh quả banh
Chọn hình tròn giữa cùng với hai phần giao bên trái và bên phải
Ấn Ctrl+G hoặc chọn Arrange > Group
Kết hợp 3 đối tượng được chọn thành một nhóm (group), khiến chúng “dính cứng” vào nhau
Chọn View > Snap To Guideline
Tắt chế độ “bắt dính vào đường gióng”
Định cỡ quả banh cho “vừa phải”, gần bằng chữ L của biểu tượng (bạn chưa cần điều chỉnh chính xác) và đặt vào “miếng bánh phần tư” phía trên, bên phải của biểu tượng
Bạn thu được kết quả như hình 5
Đóng cửa sổ Shaping

Hình 1 
Hình 2 
Hình 3 
Hình 4 
Hình 5
Gióng hàng các chữ
Ta gần đạt được mục tiêu rồi! Chỉ cần “cò kè” chút xíu nữa là xong. Với chữ L làm chuẩn, bạn cần điều chỉnh sao cho đường kính quả banh vừa đúng bằng chữ L và chúng nằm ngang nhau. Chữ T phải thẳng hàng dọc với chữ L. Chữ C phải thẳng hàng ngang với chữ T.
Tạo ra hai đường gióng ngang ở đỉnh và ở đáy chữ L
Chọn View > Snap To Guideline
Bật chế độ “bắt dính vào đường gióng”
Lấy tầm nhìn gần, vừa đủ bao quát chữ L và quả banh
Chọn View > Simple Wireframe
Chuyển qua chế độ hiển thị dạng khung sườn để thấy rõ hai đường gióng ngang vừa tạo ra. Màn hình trước mắt bạn sẽ giông giống như hình 6
Co dãn quả banh sao cho nó nằm vừa vặn giữa hai đường gióng (hình 6)
Nhờ chế độ bắt dính vào đường gióng đang có hiệu lực, bạn thực hiện thao tác vừa nêu rất dễ dàng.
Gõ phím mũi tên trái hoặc phải tùy theo bạn muốn “nhích” quả banh sang trái hoặc sang phải chút xíu

Hình 6
Thao tác “nhích” mà bạn vừa thực hiện giúp ta “tinh chỉnh” vị trí đối tượng được chọn. Tương tự phím mũi tên trái và phải, phím mũi tên “lên” và “xuống” cho phép “tinh chỉnh” vị trí đối tượng theo chiều dọc. Chức năng như vậy của các phím mũi tên được những người dùng CorelDRAW lâu năm rất ưa chuộng. Chả thế mà các phím mũi tên trên bàn phím thường được “dân CorelDRAW” trìu mến gọi là phím nhích (nudge key).
Ghi chú
• Nếu bạn dùng công cụ chọn bấm vào chỗ trống của trang in (nghĩa là không chọn gì cả), trên thanh công cụ Property Bar sẽ xuất hiện một ô nhập liệu gọi là Nudge Offset . Đây là nơi để bạn quy định khoảng xê dịch của đối tượng được chọn mỗi lần ta gõ phím mũi tên.
Mở cửa sổ neo đậu View Manager (chọn Tools > View Manager nếu bạn đã đóng cửa sổ này) bấm vào tầm nhìn View 1
Phục hồi tầm nhìn đã ghi nhớ
Chọn chữ T ở “miếng bánh” phía dưới trái và gõ phím mũi tên lên hoặc xuống để tinh chỉnh vị trí của chữ T theo chiều dọc sao cho “coi được”
Lúc này chữ T đang ở trạng thái “được chọn”.
Ấn giữ phím Shift và bấm vào chữ L
Chọn thêm chữ L
Gõ phím C
Gióng tâm chữ T cho thẳng hàng dọc với tâm chữ L
Bạn chú ý, chữ T được gióng theo chữ L vì chữ T được chọn trước chữ L. Nói chung, đối tượng được chọn sau cùng là đối tượng được lấy làm chuẩn khi gióng hàng. Với kinh nghiệm này, ta lại tiếp tục gióng chữ C với quả banh cho thẳng hàng dọc và gióng chữ
|